Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Phú Yên: Nông dân làm giàu nhờ ứng dụng khoa học công nghệ

Trongnhững năm qua, các cấp Hội Nông dân (ND) trong tỉnh đã đẩy mạnh công tác phốihợp với các ngành liên quan triển khai nhiều dự án, mô hình đồng hành cùng NDtrong nghiên cứu, ứng dụng KH-CN vào sản xuất, góp phần tăng năng suất và giátrị sản phẩm...



Trongnhững năm qua, các cấp Hội Nông dân (ND) trong tỉnh đã đẩy mạnh công tác phốihợp với các ngành liên quan triển khai nhiều dự án, mô hình đồng hành cùng NDtrong nghiên cứu, ứng dụng KH-CN vào sản xuất, góp phần tăng năng suất và giátrị sản phẩm.

“Việcứng dụng các tiến bộ KH-CN vào sản xuất đã giúp ích rất nhiều cho hội viên, bàcon ND trong tỉnh”, Chủ tịch Hội ND tỉnh Lê Đủ khẳng định.

KhiND làm chủ công nghệ

Nhẩmtính lại hiệu quả về mặt kinh tế của việc ứng dụng tiến bộ KH-CN trong sản xuấtbắp và chế biến thức ăn gia súc bằng phương pháp ủ chua trong chăn nuôi bò, ôngNguyễn Văn Thành ở xã An Mỹ (huyện Tuy An), chia sẻ: “Gia đình tôi đã nuôi bònhiều năm, lúc trước chủ yếu dùng cỏ, rơm rạ để cho bò ăn nên việc trữ cỏ chomùa khan hiếm rất cực. Từ khi tôi được tiếp cận với việc dùng thức ăn ủ chua đểvỗ béo bò, đàn bò ăn nhiều hơn, ngủ ngon, đường tiêu hóa ổn định và tăng trọngtốt. Sau thời gian vỗ béo bằng thức ăn ủ chua, bò tăng trọng với mức tăng gần1kg/ngày/con nên bà con chúng tôi rất phấn khởi khi áp dụng kỹ thuật nuôi mớinày”.

Còntheo ông Nguyễn Duy Trinh ở xã Hòa Đồng (huyện Tây Hòa), nhờ mạnh dạn chuyểnđổi mô hình nuôi vịt trời và áp dụng khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi, đến nayđàn vịt của gia đình ông có hơn 3.000 con; mỗi tháng xuất bán khoảng 500 convịt thương phẩm; bình quân mỗi con nặng từ 1,8-2,5kg, được bán với giá 150.000đồng/kg. Như vậy, mỗi năm gia đình ông thu nhập từ 250-300 triệu đồng từ việcxuất bán vịt thương phẩm. Theo kinh nghiệm của ông Trinh, để tạo ra sản phẩmsạch, chất lượng thì vịt trời nên được chăn thả tự nhiên.

“Khi vịt được một thángtuổi thì bắt đầu cho ăn bắp, chuối, rau muống… Vịt trời ăn ít, chỉ khoảng 10%khẩu phần ăn của vịt nhà. Từ khi nở ra đến khi xuất bán, chi phí thức ăn chomỗi con vịt trời khoảng 50.000 đồng. Sắp tới, tôi sẽ đầu tư thêm chuồng trại đểtăng đàn, kịp đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong và ngoàitỉnh”, ông Trinh nói.

Hành động tập thể

Để giúp ND ứng dụng KH-CN, chuyển đổi cây trồng, vật nuôihiệu quả, thời gian qua, các cấp Hội ND đã thực hiện nhiều phần việc thiếtthực. Ông Lê Đủ, Chủ tịch Hội ND tỉnh, cho biết: “Thông qua hoạt động phongtrào, các cấp Hội phối hợp với ngành Nông nghiệp, KH-CN, các doanh nghiệp,trung tâm, trường dạy nghề tổ chức hàng trăm lớp tập huấn chuyển giao, áp dụngtiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi cho hàng trămngàn lượt hội viên, ND…

Từ đó thay đổi nhận thức, cách làm trong ND về chuyển đổingành nghề, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với tiềm năng của địaphương và nguồn đầu tư của gia đình. Đồng thời phối hợp tổ chức tuyên truyền,quảng bá, xây dựng thương hiệu và tiêu thụ nông sản cho ND, kết nối với doanhnghiệp trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Thông qua các lớp tập huấn, hầu hết ND được hiểu biếtthêm nhiều quy trình kỹ thuật mới để từng bước áp dụng vào tình hình thực tiễncủa mỗi hộ gia đình, tạo thêm công việc mới cho lao động nhàn rỗi, góp phầntăng thu nhập, cải thiện cuộc sống. Nhiều dự án, mô hình được triển khai như:Dự án Chế biến thức ăn gia súc bằng phương pháp ủ chua cung cấp cho chăn nuôibò trong các nông hộ và trang trại; dự án Nhân giống và sản xuất chuối theohướng công nghiệp ở vùng trung du; mô hình Chuỗi liên kết rau an toàn; mô hìnhNuôi trâu đàn kết hợp dịch vụ; mô hình Sản xuất bánh tráng theo dây chuyền côngnghiệp…

Nhiều năm trồng sắn, bắp trên rẫy của gia đình nhưng thunhập vẫn bấp bênh, năm 2010, ông Trần Hữu Luật quyết định vay vốn mua thêm đất,đầu tư trồng mía, cao su và một số cây nông nghiệp ngắn ngày. Nhờ biết áp dụngkhoa học kỹ thuật, cơ giới hóa vào sản xuất nên năng suất, chất lượng đường từcây mía và mủ cao su ngày càng được nâng lên, đem lại thu nhập cao, giúp kinhtế gia đình ông ổn định. Hiện trang trại gia đình ông có 6ha mía, 3ha cao su,2ha lúa nước, bắp và một ao cá rộng 500m2 kết hợp với phục vụ tưới tiêu. Bìnhquân hàng năm sau khi trừ chi phí, ông Luật thu về hơn 400 triệu đồng; 6 laođộng làm việc thường xuyên cho ông có mức thu nhập 4 triệu đồng/người/tháng.

Tương tự, nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vàomô hình Trồng mía hàng đôi gắn với dịch vụ cơ giới hóa, gia đình ông Huỳnh KhắcVũ ở xã Hòa Hội (huyện Phú Hòa), mỗi năm thu nhập trên 1 tỉ đồng. “Gia đình tôiáp dụng kỹ thuật trồng mía hàng đôi bằng máy nên số lượng mía “đứng” rẫy nhiềuhơn hẳn, mía mọc đều, hạn chế được sâu bệnh, giảm chi phí thuê lao động. Môhình ứng dụng công nghệ cơ giới hóa được đông đảo bà con học theo. Khả năng vụnày năng suất mía bình quân của tôi vượt 100 tấn/ha, cá biệt có những ruộng míathâm canh có thể chạm mức 150 tấn/ha”, ông Vũ nói.

Ông Lê Đủ, Chủ tịch Hội ND tỉnh: Trong quá trình tái cơcấu ngành Nông nghiệp, ngoài các định hướng mang tính đột phá mà tỉnh đã đề rathì yếu tố “người ND kiểu mới” đóng vai trò rất quan trọng. Vì vậy, ND phải tổchức được “hành động tập thể” theo quy trình sản xuất chung. Kèm theo đó, quytrình sản xuất, thu hoạch, bảo quản và thương mại của ND phải được thiết lậptrên cơ sở yêu cầu của doanh nghiệp, thị trường về khối lượng cung ứng, chấtlượng sản phẩm… Để làm được điều này, các hộ ND cần áp dụng kỹ thuật tiến bộ,xây dựng quy trình kỹ thuật, liên kết sản xuất chứ không theo kiểu đơn lẻ, mangtính cá nhân như lâu nay.

Báo Phú Yên